Hiển thị các bài đăng có nhãn bia đá. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn bia đá. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 29 tháng 11, 2016

Tổng hợp về công ty Đá Mỹ Nghệ Phúc Tiến Ninh Bình




Đá Mỹ Nghệ Phúc Tiến được ra đời vào năm 2001. Phúc Tiến luôn kiêu hãnh là hạ tầng số một trong quần thể hiệp hội làng đá Ninh Vân. có kinh nghiệm 15 năm trong nghề, chúng tôi luôn được người mua và đối tác tin tưởng.

Đá Mỹ Nghệ Phúc Tiến sở hữu 1 hệ thống nhà xưởng đa dạng, cơ sở vật chất rẻ, đa số máy móc chế tạo. nhóm viên chức của Phúc Tiến đều là thợ lành nghề, có kinh nghiệm lâu năm trong việc chế tạo và nhiệt tình sở hữu công tác. viên chức của Phúc Tiến đều được tuyển chọn và huấn luyện chăm chút, bài bản.

Chúng tôi đã với rộng rãi dự án lớn, trung tâm của nhà nước cũng như của tư nhân với hồ hết sản phẩm phổ quát được thi công trên toàn quốc và được đưa đi triển lãm tại phổ quát hội triển lãm lớn về đá mỹ nghệ, hàng thủ công doanh nghiệp tại Hà Nội, Hải phòng, tp Hồ Chí Minh. những tác phầm đều được mê say và được đánh giá cao.

Phương châm của doanh nghiệp là “chất lượng là số một – khách hàng là người quyết định sự sống còn” vì thế chúng tôi xin bảo đảm rằng về chất lượng và tầm giá của Đá Mỹ Nghệ Phúc Tiến là phải chăng nhất thị trường.

dịch vụ và sản phẩm Đá Mỹ Nghệ Phúc Tiến phân phối

mẫu mộ đẹp, trả lời bề ngoài lăng mộ đá
- Tượng đá đẹp, phổ biến bề ngoài
- Nội thất đá: cột đá, chân tảng đá, bậc thềm đá, chậu đá, chắp núi non bộ bằng đá từ cỡ nhỏ đến cỡ lớn…
- Đồ thờ đá: cây đèn đá, bia da, năng tuyển mộ đá, tháp tổ, lư hương, đỉnh hương…
- Linh vật đá: rồng đá, chó đá, kỹ lân đá, tỳ hưu đá, voi đá, ngựa đá, nghệ đá…
- Phục chế Đền, Chùa, nhà cổ bằng đá…

Chúng tôi nhận khiến cho đông đảo các sản phẩm bằng đá trong khoảng nhỏ đến lớn, sở hữu 1 máu nóng và sự nồng nhiệt cao nhất.

Chúng tôi sở hữu lực lượng họa sĩ, mẫu mã viên riêng với thể ngoài mặt mọi sản phẩm theo nhu cầu và đề xuất riêng của người dùng.

vì sao bạn nên chọn Đá Mỹ Nghệ Phúc Tiến

Đá mỹ nghệ Phúc Tiến luôn làm việc sở hữu kinh nghiệm thực tiễn 15 năm hoạt động, và sự sáng tạo cao nhất để với các tác phẩm nghệ thuật phải chăng nhất. Đá mỹ nghệ Phúc Tiến mang quy mô nhóm viên chức gần như có tay nghề cao và một xưởng phân phối uy tín. Chúng tôi có đa dạng các ngoài mặt và chủng loại với kho chiếc lên tới 2000 chiếc và đa dạng thể loại.

Tầm nhìn và sứ mạng của Đá mỹ nghệ Phúc Tiến không chỉ mong muốn phát triển thành doanh nghiệp số 1 Việt Nam về chế tác đá mỹ nghệ, mà còn mong muốn đưa hàng đá mỹ nghệ Ninh Vân – Việt Nam ra thị trường quốc tế và trở nên nhãn hiệu lớn trên thế giới.

Tham khảo: su tu da phong thuy

sau rốt sở hữu tầm nhìn và sứ mạng của mình chúng tôi tăng trưởng trên sự vững bền và lâu dài. Đá Mỹ Nghệ Phúc Tiến luôn hướng tới việc tạo dựng 1 nhãn hiệu uy tín, chất lượng và cạnh tranh.

khi tới tìm hàng tại Đá mỹ nghệ Phúc Tiến, người mua sẽ được:

- Giao hàng toàn quốc, lắp đặt tận nhà
- tư vấn thiết kế miễn phí
- giá tiền phải chăng nhất
phổ biến mẫu hấp dẫn nhất
- Trả hàng bất chợt chấp nhận
- Bảo hành lên tới 36 tháng

địa chỉ

ĐÁ MỸ NGHỆ PHÚC TIẾN

liên hệ : thị trấn Ninh Vân, huyên Hoa Lư, thức giấc Ninh Bình.
Email : langdaninhbinh@gmail.com
Website : http://langdaninhbinh.com/

Để ko mất phổ quát thời kì chuyển di của Quý khách hàng Quý hãy điện thoại để cơ sở giải đáp trực tiếp hoặc hạ tầng sẽ cử thợ khoa học đến trực tiếp để tư vấn ngoại hình.

Cám ơn khách hàng đã đến và quan tâm đến các sản phẩm “Đá Mỹ Nghệ Phúc Tiến” của chúng tôi, chúng tôi hy vọng sẽ được phục vụ quý khách rộng rãi hơn !

Rất mong nhận được sự ủng hộ và góp quan niệm trong khoảng quý quý khách cũng như những doanh nghiệp bạn!

Trân trọng!

Chủ Nhật, 31 tháng 7, 2016

Ly kỳ chuyện bia đá làm chết người

Người thì tin rằng chậm triển khai là bia chiêu mộ dành cho người đã chết, người thì nhắc chậm triển khai là tấm bia đánh dấu địa phận làng. Vậy đâu là sự thật?
  • 1
    Bia đá cho 10 người chết oan?

    đến nay, câu chuyện về các người bị bắn chết tập thể tại rìa làng Nội Đông, nơi chôn tấm bia đá, vẫn được toàn bộ người nhớ và nói tới. mặc dầu xảy ra từ những năm kháng chiến chống Pháp nhưng câu chuyện đã được nói qua những thế hệ và còn lưu truyền đến tận bây giờ, thậm chí cả những đứa con trẻ cũng biết đến sự việc này.

    Người làng Nội Đông còn ít người thọ trên 80 tuổi, vì thế các người chứng kiến tận mắt sự việc đến nay không còn phổ biến, với các cụ đã bị lẫn. bên cạnh đó, các sợ hãi, kinh sợ về những người bị bắn chết năm ngừng thi côngĐây vẫn còn đọng lại trong tâm khảm của ko ít người.

    Theo người dân trong làng, cuối năm 1953, cũng là năm giặc Pháp tràn vào càn quét địa phận quận Tiên Lãng, lấy tên là trận càn Cờ-lốt, chúng lùng sục các người theo cách mệnh để bắt và giết, thậm chí bắt giết vô cớ các người ko với tội. Năm Đó, khoảng chục người trong làng Nội Đông trùng hợp bị Pháp bắt.

    Người ta nói lại, ngày hôm đó, mặt trời chưa lên, đã thấy từ phía con đường to, giặc Pháp ầm ầm tràn vào làng, lục lọi từng nhà, lôi xềnh xệch từng người với tên trong danh sách nào chậm tiến độ, số còn lại đứng vây quành làng, không người nào sở hữu thể ra được.

    "Ngày trước, trong đình làng mang loại bể nước xây chìm, sở hữu 3 - 4 người nấp ở Đó cũng bị chúng lôi lên, vừa đánh vừa trói, đẩy hết ra rìa làng, chỗ bia đá kia kìa, tổng cùng phải tới chục người", bà cụ Vũ Thị Dận, năm nay 79 tuổi, vẫn nhớ như in chuyện năm nào.

    "Cả làng Nội Đông bị 1 phen náo loàn vì giặc Pháp. Tiếng người la hét, chửi bới, than khóc thảm thiết. Mấy bà với con bị bắt, vợ sở hữu chồng bị bắt bất tỉnh lên bất tỉnh xuống, trông thấy cũng tội, bà không cầm được nước mắt. Chỉ từ sáng tới trưa là bị bắt hết rồi", bà cụ Dận đề cập.

    các người bị bắt đã bị xử bắn ngay tại rìa làng. Bọn lính Pháp trói cả chục người vào nhau, bắt đứng trên loại cầu đá bắc qua rãnh, bịt mắt họ và xử bắn. Tiếng khóc than hòa trong tiếng súng và máu đã phát triển thành nỗi sợ hãi của ko ít các người chứng kiến. Sau cuộc hành quyết đẫm máu tại làng Nội Đông, những người bị Pháp giết mổ được đưa về nhà táng.

    ko một người nào trong làng hiểu cội nguồn tại sao cả chục người lại bị bắt và bị ám sát mọi rợ như thế. khi chậm triển khai, ai cũng căm phẫn, nhưng chẳng thể làm gì được. Và tuyệt nhiên, bắt đầu từ ngày chậm triển khai, người làng Nội Đông không người nào dám bước chân qua cái cầu đá nơi xử bắn 10 người ấy nữa.

    dù rằng cây cầu nằm trên đường ra cánh đồng nhưng người ta thường tránh, chọn 1 tuyến đường khác vòng xa hơn để đi ra đồng. Người làng Nội Đông sợ rằng bước chân lên cầu đá sẽ bị chết oan nghiệt giống như thế. Và ko biết từ bao giờ, một loại bia đá được cắm gần cầu đá. Bà cụ Dận cho biết: "Chắc người ta cắm để tưởng nhớ những người bị bắn ngày trước nhưng không ghi cụ thể tên người nào trên bia, bia đá để trống không. tới bây giờ đã mấy chục năm rồi, tôi cứ nhìn thấy bia đá là lại nghĩ ngay đến loại vụ xử bắn đẫm máu đó".

    Bia đá vô danh rìa làng Nội Đông sở hữu đa dạng người vẫn còn là một bức màn bí mật

    thời gian qua đi, dư vang về vụ hành hình cả chục người vô tội mà ko rõ cội nguồn nay đã mờ nhạt hơn, nhưng chiếc bia đá trơ trọi, vô danh vẫn là nỗi ám ảnh của nhiều người. không còn là chuyện của vụ xử bắn nữa, mà là những câu chuyện kỳ lạ xoay quành tấm bia đá này.
  • 2
    các chuyện kỳ lạ

    mặc dầu bia được cắm ở chậm tiến độ nhưng hoàn toàn không sở hữu đồ để thờ phụng, khiến phổ biến đứa con nhỏ bị mắc vạ vì "phạm" phải bia đá vô danh. Bà cụ Dận nói lại chuyện sắp chục năm trước, thằng cháu ngoại của bà trong khoảng thị trấn về làng chơi, do không biết nên đã "đắc tội" với bia đá, phải cúng bái mãi mới khỏi.

    căn do là thằng bé cháu ngoại bà cụ Dận đi ra rìa làng thì nhìn thấy cây đa đẹp quá, nên mới bắt Anh chị em nó dẫn ra ngừng thi côngĐây chơi. Chơi một lúc thì thằng cu buồn tiểu, thấy dòng bia đá chắn giữa lối đi nên tiểu luôn vào Đó. Anh chị nó chưa kịp cản lại thì nó đã tiểu xong, mấy đứa trẻ sợ quá liền dẫn thằng bé chạy ngay về bảo bà. lúc về đến nhà, thằng bé 4 tuổi này mới kêu đau bụng.

    "Mặt nó tái mét đi, khóc mãi, dỗ thế nào cũng ko nín, chỉ kêu đau bụng thôi, tôi lấy cao thoa vào bụng nó 1 lát thì hết", bà Dận nhớ lại. Cứ tưởng mọi chuyện giới hạn lại ở chậm triển khai, khi Anh chị em đang ăn cơm thì bỗng nghe thấy tiếng kêu khóc ồn ã của thằng nhỏ.

    Thằng bé vừa khóc vừa chỉ vào chỗ hiểm đang sưng to như bị ong đốt, Anh chị hoảng quá ko biết chuyện gì đang xảy ra. Mãi bà Dận mới nhớ ra chuyện dòng bia đá, liền sắm sửa lễ hương nhang, vàng lẻ chạy ra bia đá để cúng. tới tối thì thằng bé nghịch dại này đỡ đau, Anh chị em mới thở phào. Nhưng cũng bắt đầu từ Đó, bà Dận dặn con cháu tuyệt đối ko được ra phía rìa làng với bia đá nữa.

    Cũng trong khoảng thời gian chậm tiến độ, lúc câu chuyện của cháu ngoại bà Dận đang khiến cho bùng phát các lời đồn thổi về chiếc bia đá thì lại xảy ra một việc nữa khiến dân làng tá hỏa. Cô bé Uyên (một đứa cháu của ông lão Đại - người coi đình làng) khi chậm tiến độ chỉ tầm 8 - 9 tuổi. Nửa đêm, người ta thấy ông lão gọi cháu khản cả cổ, mấy nhà tiếp giáp với thấy vậy chạy ra đình xem với chuyện gì. tới nơi, thấy ông lão mặt mếu máo vì nửa đêm dậy thì cửa mở toang, không thấy cháu đâu.

    Mấy nhà trong xóm hô hoán nhau đi tậu đứa bé, người ta soi từng gốc cây, lật từng đám cỏ bên bờ mấy cái ao quanh đó đình lên, nhưng ko thấy gì. đến sáng hôm sau, người ta mới hoảng hốt khi thấy cô bé Uyên nằm gục bên dòng bia đá vô danh. Gọi mãi mới thức giấc lại nhưng cô bé hoàn toàn ko nhớ vì sao mình lại nằm ở đây. Thế là chuyện cô bé bị... "ma đưa" lại rùm beng cả làng. "Cả nửa tháng sau khi về nhà, nó mới thường ngày trở lại, đầu óc tự nhiên cứ như người mất hồn ấy, đẫn đờ lắm", bà lão Nhác, nhà ở đối diện sở hữu đình làng, nói.
  • 3
    Chỉ là bia đá của đình làng bỏ đi!
    tiếp giáp với tảng đá vô danh kỳ lạ và bí hiểm còn không ít những lời đồn thổi. ngoài ra, lúc PV gặp ông Trịnh Văn Miêu, năm nay 79 tuổi, nhà ở sắp khu vực bia đá nhất, ông chỉ lắc đầu và cười khi được hỏi về sự kỳ lạ của bia đá: "Chỉ là sự tình cờ thôi, chứ tôi sống ở đây đã bằng này tuổi rồi mà sở hữu thấy mẫu gì đâu".

    Ông thừa nhận là có 1 vụ hành hình cả chục người dân trong làng ngay tại cái cầu đá sắp vị trí tấm bia hiện nay, hồi kháng chiến chống Pháp nhưng ko nhớ rõ năm nào. Về cội nguồn của tảng đá vô danh, ông nói:

    "Cái tảng đá này có ở đây từ hồi xây đình làng, vì trong đình làng cần một bia đá để ghi chép thần phả gì ngừng thi côngĐây nên mới kêu gọi ủng hộ. nào ngờ người ta tặng dư ra một cái, không biết vứt đi đâu nên mới với ra rìa làng cắm để coi như khiến cho dấu đấy mà, chứ với phải để thờ ai đâu. Người ta chết thì ma nhà nào phải về nhà nấy chứ".

    Ông chỉ vào bia đá và nói: "Ngày trước, bia này sở hữu chữ Nho cơ, nhưng sau mấy chục năm bị mưa gió bào mòn nên mờ cả, chứ đâu phải bia đá vô danh, cũng không phải bia đá thờ người chết đâu". giải thích về mấy chuyện ly kỳ liên quan tới bia đá "vô danh" này, ông Miêu cho rằng vụ thằng cháu bà Dận và cô bé Uyên chỉ là do thần hồn nát thần tính. "Có khi thằng bé nó nghịch nên bị ong đốt vào ngừng thi côngĐây, chứ làm cho gì với ma quỷ.

    cái Uyên nó bị mộng du, lắm hôm tôi thấy nó còn mộng du cả ban ngày, múa máy giữa sân đình nhưng mà, khiến cho gì có ma, mấy bà già lắm chuyện!". những lời giải thích của ông Miêu khiến cho bia đá "vô danh" bớt đi những bí ẩn của nó. tuy nhiên, đối sở hữu phổ thông người dân làng Nội Đông, bia đá "vô danh" này vẫn còn là 1 vật bí ẩn và dị kì.
- See more at: http://trithucsong.com/van-hoa/ly-ky-chuyen-bia-da-khong-chu-va-10-nguoi-chet-oan-c31150.html#sthash.yarOwSnk.dpuf

Thứ Bảy, 30 tháng 7, 2016

Bia đá được đánh giá là cổ nhất Việt Nam.

Tại Bắc Ninh, giới khảo cổ sắm thấy một tấm bia đá được giám định là cổ nhất Việt Nam. Tuy bị vỡ lẽ khiến cho đôi và nét chữ bị mờ nhưng những nhà khảo cổ vẫn quyết tâm kiếm tìm thông điệp trong khoảng bảo vật phương pháp đây tròn một.700 năm

Bia cổ thời Đông Ngô

Giám đốc bảo tàng tỉnh Bắc Ninh, ông Lê Viết Nga tiết lộ: "Vừa qua lĩnh vực khảo cổ đã phát hiện một tấm bia đá cổ tại nghè thôn Thanh Hoài, xã Thanh Khương (Thuận Thành). Tấm bia đá gồm 2 mặt mang hai niên đại khác nhau. Mặt thứ nhất có ghi niên đại "Kiến Hưng nhị niên cửu nguyệt", tạm cho rằng là niên hiệu của Tấn Mẫn Đế, khoảng tháng 9 năm 314. Mặt thứ 2 có ghi niên đại "Duy Tống Nguyên Gia chấp thất niên", tức năm 450".
khi phóng viên có mặt tại nghè Thanh Hoài, xã Thanh Khương, tấm bia vẫn nằm nguyên vị trí cũ. Do tấm bia bị tan vỡ làm cho đôi nên nửa dưới được gắn có đế, nửa trên được xếp dưới đất. Cụ Nguyễn Huy Chiện, từ đền Thanh Hoài cho biết, địa phương đang với phương án thuê thợ đá về gắn lại cho hoàn chỉnh.
Theo Quan sát của chúng tôi, kết cấu của bia gồm 2 phần là thân bia và đế bia. Thân bia được tạo tác bởi 1 phiến đá to, phần đầu bia được đục vát 2 đầu thành hình tam giác tạo thành trán. Đế bia là một khối đá hình hộp chữ nhật khổng lồ. Chiều cao của tấm bia là 2m, rộng 1m và độ dày là 15cm. Phần đế bia mang chiều dài một,36m, rộng 1m và cao 0,5m.

Họ Đào Việt Nam

Tấm bia bị gẫy làm đôi

Theo cụ Nguyễn Huy Chiện, trước đây bia vẫn còn nguyên vẹn, chỉ với 1 vết nứt chéo ngang thân bia. Năm 1967, phi cơ đế quốc Mỹ bị rơi trúng địa phận thôn Thanh Hoài cách bia khoảng 300m. khi lính công binh cho nổ các quả bom còn sót lại đã gây ra chấn động làm tấm bia bị vỡ vạc làm đôi.
Cũng theo cụ Chiện, kể từ bia bị tan vỡ thì dân làng xếp vào chái nhà của nghè. Củi khô xếp đống nên 1 thời gian dài tấm bia quý giá rơi vào quên lãng. lúc ngành văn hoá thức giấc Bắc Ninh đi dò xét xếp hạng di tích, những chuyên gia lược dịch mới biết đây là tấm bia cổ kính.
Ông Lê Viết Nga khẳng định: "Với 2 giả thiết về niên đại của bia thì niên đại tuyệt đối của tấm bia vẫn còn là 1 ẩn số. Nhưng dù niên đại của nó mang rơi và thời khắc nào (năm 305 hoặc 315) thì có các căn cứ hiện có, hoàn toàn sở hữu thể khẳng định đây là tấm bia cổ nhất Việt Nam được phát hiện. Văn bia sở hữu niên đại vào đầu thế kỷ thứ IV, lập tức Đông Ngô bên Trung Quốc".

Họ Đào Việt Nam

Tấm bia được xác định niên đại năm 314

Tấm bia viết gì?

Theo Thống kê của bảo tồn tỉnh Bắc Ninh, số chữ còn lại ở cả hai mặt tấm bia cổ chỉ khoảng gần 300 chữ, mỗi mặt được viết theo lối chữ khác nhau. Mặt thứ nhất mang chiếc niên đại Kiến Hưng nhị niên, hiện còn khoảng 120 chữ viết theo cá tính Lệ thư. Mặt thứ hai có niên đại Tống Nguyên Gia chấp thất niên còn khoảng 150 chữ, viết theo cá tính Khải thư.
Nội dung văn bia ghi chép những gì hiện chưa được công bố. Nhưng ông Lê Viết Nga bật mí về nhân vật được ghi trong tấm bia là Đào Hoàng. ngoài ra, mỗi mặt lại mang 1 nội dung khác nhau: Mặt thứ nhất ghi chép về lai lịch, công trạng của ông, mặt thứ hai biên chép về việc trùng tu nơi thờ tự, tức nghè Thanh Hoài.
Niên đại của mặt thứ nhất được ghi ở cái rốt cuộc của mặt bia: "Kiến Hưng nhị niên cửu nguyệt nhâm". Niên đại của mặt bia thứ 2 ghi ở loại thứ 5 (tính trong khoảng phải sang trái): "Duy Tống Nguyên Gia chấp thất niên, Thái tuế Canh Dần, thập nhị nguyệt (Bính Thìn)".
Ông Nga cho hay, về niên đại Tống Nguyên Gia của mặt bia thứ 2 ta mang thể tiện lợi xác định đây là niên hiệu của Lưu Nghĩa Long (424 - 453). Về niên hiệu Kiến Hưng được khắc ở mặt bia thứ nhất, từ sau năm Đào Hoàng mất (năm 300). giả thuyết thứ 2, thì đây là niên hiệu của Tấn Mẫn Đế (313 - 317).

Họ Đào Việt Nam

một số hàng chữ trên tấm bia

Đào Hoàng là ai?

Theo nội dung tấm bia cổ cũng như khi những nhà khảo cổ đối ứng với lịch sử Trung Quốc thì Đào Hoàng ko rõ năm sinh nhưng mất năm 300. tên tự Thế Anh, là đại tướng dưới triều Đông Ngô và Tây Tấn.
Giám đốc bảo tàng Bắc Ninh, ông Lê Viết Nga cho biết, "Tấn thư" không ghi thân thế và tổ tông của Đào Hoàng, chỉ biết rằng ông sinh ra và to lên ở vùng Mạt Lăng, huyện Đơn Dương thuộc nước Ngô, 1 trong ba quốc gia thời Tam Quốc.
Thời bấy giờ, miền đất Giao Châu thuộc vùng quản lí của Đông Ngô thường nảy sinh bạo loạn. Năm 269, thấy đã mất hai châu, Tôn Hạo hoảng sợ, vội sai Ngu Dĩ làm cho Giám quân, Tiết Vũ làm Uy Nam tướng quân, đại đô đốc và Đào Hoàng được phong chức Thương Ngô thái thú, đem quân tiến đánh nhằm chiếm lại Giao châu.

Họ Đào Việt Nam

Nghè Thanh Hoài

Trận đầu ra quân, Đào Hoàng bại trận ở sông Phần phải lui về giữ Hợp phố, 2 tướng tử trận. Đào Hoàng dẫn hơn 100 quân vào đột kích Đổng Nguyên. Bên quân Tấn. Đào Hoàng bồ hình Đó lại công hãm và chiếm được Giao Châu. Đông Ngô cho ông khiến cho Thứ sử Giao châu.
Địa thế ba thị xã Vũ Bình, Cửu Đức, Tân Xương hiểm trở, lại thường sở hữu giặc cướp. Tôn Hạo sai Hoàng đem quân đánh, mở mang ba thị xã vào đất Ngô. Sau Tôn Hạo phong ông làm đô đốc Vũ Xương, dời đến Hợp xã và cho viên thái thú Hợp xã Tu Nguyên lên thay, nhưng mang ngàn người Giao châu xin cho Hoàng ở lại, vua Ngô bèn cho ông ở lại Giao Châu.
Năm 280, Tấn Vũ Đế đem quân diệt Ngô, hạ Kiến Nghiệp, bắt sống Tôn Hạo. Tôn Hạo đích thân viết 1 bức thư, sai Hoàng Tức đến khuyên Đào Hoàng quy thuận nhà Tấn. Đào Hoàng khóc suốt mấy ngày, sau cùng mới chịu, sai sứ đưa ấn bao về Lạc Dương. Tấn Vũ Đế cho ông giữ nguyên chức cũ, lại ban tước Uyển Lăng hầu, Quan quân tướng quân.
Theo sử sách, Đào Hoàng ở Giao Châu hơn 30 năm, ân, oai tỏ rõ, được dân địa phương quý mến. Năm 300, ông tạ thế, quần chúng kêu khóc như mất cha mất mẹ. Bởi lúc còn sống, Đào Hoàng giúp dân khai khẩn, lập các làng ấp, ổn định gia đình cho dân nên được yêu quý. khi chết, tư thục đền thờ Đào Hoàng tại xã Thanh Khương (Thuận Thành) hoài tưởng công ơn.

"Tấm bia cổ được coi như bảo bối quý nên chúng tôi có đề nghị có những cao niên địa phương được trưng dụng để hàn gắn và bảo quản. bên cạnh đó, địa phương cho rằng chậm tiến độ là bảo vật truyền đời nên giữ lại và mang phương án trùng tu và để tại nghè Thanh Hoài".

Ông Lê Viết Nga (Giám đốc bảo tồn thức giấc Bắc Ninh)

Chủ Nhật, 24 tháng 7, 2016

Bia tiến sĩ Văn Miếu

Bia tiến sĩ Văn Miếu gồm 82 tấm bia đá khắc các bài văn bia đề danh tiến sĩ Nho học Việt Nam của các khoa thi Đình thời nhà Hậu Lê và nhà Mạc (1442-1779) tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám, Hà Nội. Bia được đặt trên lưng rùa đá để biểu hiện sự trường tồn của tinh hoa dân tộc, phản chiếu được giá trị văn hóa, lịch sử của quốc gia trong suốt 300 năm.
Năm 1484, mang chủ trương đề cao Nho học và suy tôn bậc kiến thức Nho học đỗ đại khoa, vua Lê Thánh Tông (1460 – 1497) đã cho dựng 10 tấm bia tấn sĩ trước hết tại Văn Miếu cho những khoa thi năm 1442, 1448, 1463, 1466, 1469, 1472, 1475, 1478, 1481 và 1484. ngoài ra, hiện giờ chỉ còn lại 7 tấm bia. Trong những năm tiếp theo, các vua nhà Lê đã cho dựng thêm 5 tấm bia tiến sĩ những khoa thi năm 1487, 1496, 1502, 1511 và 1514. tới thời nhà Mạc, do tiến hành nội chiến mang nhà Lê Trung Hưng nên chỉ có hai bia tấn sĩ được dựng cho khoa thi năm 1518 và 1529.
Sau khi chiếm lại được Thăng Long, nhà Lê Trung Hưng đã đều đặn cho tổ chức các khoa thi nhưng cũng phải tới năm 1653 thì mới cho tiến hành 1 đợt dựng bia tiến sĩ to nhất tại Văn Miếu với 25 tấm bia cho các khoa thi từ năm 1554 tới 1652. Năm 1717, 1 đợt dựng bia lớn thứ hai dưới triều đại nhà Lê Trung Hưng được diễn ra, bao gồm 21 bia tiến sĩ cho các khoa thi trong khoảng năm 1656 đến 1712. với hai đợt dựng bia tiến sĩ to và sau chậm triển khai là những lần dựng bia ngay sau mỗi khoa thi, tới năm 1779, nhà Lê Trung Hưng đã cho dựng đông đảo bia tiến sĩ trong tổng số bia ở Văn Miếu (68/82).
Sang triều đại nhà Tây Sơn (1788 – 1802) và nhà Nguyễn (1802 – 1945), đế đô được chuyển vào Phú Xuân (Huế) nên bia tấn sĩ không còn được dựng tại Văn Miếu nữa. Nhà Nguyễn khởi đầu cho dựng bia tấn sĩ tại Huế trong khoảng khoa thi năm 1822.
toàn bộ 82 bia tiến sĩ đều được chế tác theo cùng một phong cách: bia dẹt, trán cong, hình vòm. các tấm bia được đặt trên lưng rùa, rùa được tạo dáng theo 1 bắt mắt chung: to, đậm và chắc khỏe. cách dựng bia cũng rất độc đáo: đá dựng bia được chọn lựa cẩn thận, sau ngừng thi côngĐây được bề ngoài, trang trí, chạm khắc các hoa văn và bài ký. Vì được khiến hoàn toàn bằng tay nên công viêc này đòi hỏi sự kiên nhẫn và khéo léo rất to của các người thợ.
82 bia đá tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám (Hà Nội) là các tấm bia tiến sĩ độc nhất vô nhị trên toàn cầu với bài ký (văn bia) không chỉ lưu danh những tấn sĩ đã thi đỗ trong những kỳ thi trải dài suốt gần 300 năm (từ 1442 tới 1779) mà còn ghi lại lịch sử những khoa thi và triết lý của triều đại về nền giáo dục và đào tạo, dùng tuấn kiệt, thành ra với tác động to to đối mang phường hội đương thời và hậu thế. các bài văn bia còn ghi rõ ngày tháng dựng bia, tên của người biên soạn văn bia, người dựng bia. Điều này khẳng định tính chính xác, nguyên bản và độc nhất của tư liệu. các văn bia đều do những danh nhân văn hóa, trí thức lớn của quốc gia soạn nên về căn bản chúng là các tác phẩm văn chương vô giá.

Thứ Bảy, 23 tháng 7, 2016

2 bài văn bia do đích thân vua Minh Mạng viết về sông Ngự Hà và cầu Khánh Ninh

Sau 1 thời gian nghiên cứu và triển khai trùng tu, cho tới hiện tại Dự án trùng tu bình phục 2 nhà bia bảo kê 2 tấm bia:“Ngự chế Ngự Hà bi ký” và “Ngự chế Khánh Ninh kiều bi ký”đã hoàn thành. Hoạt động tu tạo này tuy với quy mô không to, nhưng mô tả phần nào được loại tâm cùng sự nỗ lực của những người làm thuê tác bảo tàng thuộc trọng tâm bảo tàng Di tích Cố đô Huế đối mang các trị giá di sản do tiền nhân để lại.
Theo những tư liệu lịch sử, “Ngự chế Ngự Hà bi ký”và “Ngự chế Khánh Ninh kiều bi ký” là 2 bài văn bia do đích thân vua Minh Mạng viết về sông Ngự Hà và cầu Khánh Ninh. Mỗi văn bia được khắc trên bia đá có nội dung khác nhau, nhưng đầy đủ đều nói đến nguyên do và ích lợi của sông Ngự Hà và cầu Khánh Ninh cũng các cây cầu khác trên con sông này đối có người dân trong việc chuyển động trong khu vực kinh kì.
Cầu Khánh Ninh và nhà bia
Ngự Hà là một con sông máng hình thức thợ, khởi nguồn trong khoảng một phần của con sông cũ chảy từ mặt Tây qua Đông của đế đô Huế. Cụ thể hơn, Ngự Hà được đào theo 1 nhánh cũ của sông Hương chảy trong khoảng chợ Kim Long đến Bao Vinh để thuận lợi cho việc chuyên chở hàng hóa ra vào kinh kì Huế. Khoảng năm Ất Sửu (1805) dưới triều vua Gia Long, sông được khơi đào từ sông Đông Ba đến Võ khố, đi ngang qua Kinh Thương (kho lúa của triều đình), và được đặt tên là sông Thanh Câu. Vào năm Ất Dậu (1825) dưới triều vua Minh Mạng, sông được đào tiếp nối tới sông Kẻ Vạn và đổi thành Ngự Hà (Sông Vua). Qua 2 lần đào, Ngự Hà trở nên cái sông chảy xuyên qua giữa lòng kinh thành với chiều dài tổng cùng là 3.700m, rộng trong khoảng 44 đến 85m, nối liền sông Kẻ Vạn mang sông Đông Ba, được xem là trục cảnh quan, tiêu thoát nước, trục liên lạc chủ đạo của khu vực kinh kì Huế thời bấy giờ.
Hệ thống cầu cống gắn liền sở hữu Ngự Hà (từ Đông qua Tây) gồm: cầu Hàm Tế, cầu Đông Thành Thủy Quan (công Lương Y), cầu Ngự Hà (cầu Kho), cầu Khánh Ninh (cống Hắc Báo), cầu Vĩnh Lợi, cống Tây Thành Thủy Quan và cầu Thủy Quan. hiện giờ, phần nhiều các cầu cống này (được xây bằng gạch vồ ở phần dưới và ốp đá Thanh ở thân và lan can cầu) vẫn còn tương đối nguyên vẹn; ngoại trừ có cầu Bình và cầu Son đã từng tồn tại, nhưng sau này đã bị triệt giải do không còn sử dụng nữa.
Nhà bia cầu Khánh Ninh
Trong các năm cách đây không lâu, sau khi UNESCO công nhận Quần thể Di tích Cố đô Huế là Di sản Văn hóa Thế giới; trong Đó với hệ thống Ngự Hà, rộng rãi dự án kiến trúc-lịch sử của triều Nguyễn đã được Chính phủ và chính quyền địa phương đầu tư trùng tu và tái thiết sở hữu mong muốn phục nguyên các giá trị đặc sắc của một kinh thành lịch sử; trong ngừng thi côngĐây, Ngự Hà và hệ thống cầu cống cũng được để ý sửa sang, chỉnh trang. trong tương lai, Ngự Hà vẫn sẽ đóng vai trò là hệ thống điều hòa nước tình cờ, tạo sự cân bằng về sinh thái trong khu vực kinh thành, song song tiếp diễn được tu sửa chỉnh trang để trở thành một tuyến du hý bằng thuyền trên sông và đi bộ dọc theo dòng chảy để giúp du khách khám phá vẻ đẹp của 1 chiếc “ sông Vua” 1 thời và trải nghiệm các hoạt động hàng ngày của cư dân Thành Nội.
Trong khuôn khổ bài giới thiệu ngắn này, chúng tôi mong muốn gửi tới cùng đồng và du khách những thông tin cơ bản về Ngự Hà cộng nội dung của bài văn bia do đích thân Vua Minh Mạng soạn vào ngày mồng một tháng 10 năm Minh Mạng thứ 17 trên hai tấm bia đá vừa được trùng tu phục hồi hai nhà che bia.
Nguyên văn nội dung hai bài văn bia này được dịch nghĩa như sau:
1. Bài văn bia viết về sông Ngự Hà
Sông này nguyên trước đây là 1 nhánh của sông Hương.
Sau lúc vua cha là Cao Hoàng đế vượt qua mọi trở ngại để lấy lại đất tâm thần, lúc vun đắp kinh đô, đã tùy theo địa vậy mà đào lấp.
Sông bắt đầu từ phía bắc Hoàng thành, ngang qua Võ Khố, vòng vèo lên phía bắc, qua phía đông, lại chuyển về phía nam, quay lại phía đông ra ngoài kinh đô lưu thông mang Hộ Thành Hà. trong khoảng đường cái ở cửa Đông Nam trong Thành Nội qua sông tới con đường loại ở cửa Chánh Bắc, đã từng bắc cầu gỗ để tương hỗ.
tới năm Canh Thìn, Minh Mạng năm thứ nhất, Trẫm nghĩ rằng ở kinh đô quy tụ phổ biến nhà cửa, người và ngựa đi trên đường mẫu đêm ngày, chất gỗ khó còn đó lâu dài, thành ra đổi khiến cho cầu đá, Đó là kế chỉ khiến cho một lần mà được nhàn rỗi trong tương lai.
Bèn sai Bộ Công lấy ngày lành tháng 5 năm ấy khởi đầu khởi công. Trải qua 1 tháng rưỡi thì loại cầu được xây xong. Dưới cầu để ba khoảng trống, trên cầu xây đá thanh, hai bên sở hữu lan can bằng đá để bảo vệ. Mặc khác, vì sông này trước chậm triển khai chưa sở hữu tên, bèn gọi tên là Ngự Hà, bởi thế cũng lấy nó để đặt tên cầu.
tới tháng tư năm Minh Mạng thứ 11, lại thấy ở chỗ Ngự Hà chảy về phía đông ra ngoài đế kinh, nguyên mang dòng cầu gỗ tên là cầu Thanh Long, cũng sai thay bằng đá. Dưới cầu đặt chánh cửa làm cho cửa quan. Trên cầu, ở lan can bảo vệ, trổ ra 13 cửa tiêu dùng để bắn súng đại chưng. Cầu được đổi thành Đông Thành Thủy Quan.
Cầu giúp ích phổ biến cho việc qua lại, thuận lợi cho xe thuyền, lại được phòng bị nghiêm chỉnh, làm kinh đô thêm hùng tráng. Kinh phí tiền nong trước sau đến vài vạn, vẫn ko tiếc nuối. Nay khiến bài ký để khắc vào bia đá.
Sáng sớm ngày mồng 1 tháng 10 năm Minh Mạng thứ 17.
Khánh Ninh Kiều bi ký2. Bài văn bia vua viết về cầu Khánh Ninh
Thời Gia Long đào sông Ngự Hà từ khi Võ Khố tới chỗ ra khỏi phía đông kinh kì, thông mang Hộ Thành Hà. Chỉ ở phần thượng lưu của nó là chưa thông.
Nghĩ kỹ thấy rằng sông này rất dễ dàng cho mọi người trong sự chuyển động để khiến việc công cũng như việc tư. giả dụ ở thượng lưu không thông thì người nào muốn đi về phía tây đế đô cũng gặp sự bất tiện thể. Vả lại, chiếc nước chẳng tiếp nối với đầu nguồn thì ứ đọng đục bẩn, không thể cung ứng cho việc ăn uống và dùng của quân đội và nhân dân.
do đó, vào tháng 6 năm Ất Dậu, năm Minh Mạng thứ 6, bèn đào 1 thủy đạo từ chỗ tắc của con sông, hướng về phía tây, ra khỏi kinh kì, thông có Hộ Thành Hà. khi ngừng thi côngĐây, sông đã thông ghe thuyền, nhưng trên các trục đường cái, người và ngựa chuyển di, chẳng thể không xây cầu để qua sông. Bèn xây cầu đá ở đường chiếc Ngự Hà, dùng cung Khánh Ninh, gần bên trái cầu để đặt tên là cầu Khánh Ninh.
Kế đến, trong khoảng tuyến đường cái cửa Chánh Nam đến con đường cái cửa Tây Bắc, ở chổ qua sông cũng xây 1 cầu đá, tên là cầu Vĩnh Lợi.
Lại ở chỗ phía tây của thành vượt qua sông, thiết lập một cửa quan, trên thì xe pháo qua lại, dưới thì ghe thuyền vào ra, gọi tên là Tây Thành Thủy Quan. Trên tường đặt súng đại bác bỏ, trông càng thêm hùng tráng.
Lại nữa, ở đầu ngoài quách phía tây của thành, cũng xây một cầu đá, gọi là cầu Hoằng Tế.
các cầu và cửa quan ấy, ở dưới đều xây bằng gạch, ở trên thì xây bằng đá. Việc thi công kéo dài tới nửa năm mới hoàn tất, thật là vững chãi.
mặc dầu kinh phí lên đến cả chục vạn, nhưng nào mang nuối tiếc, vì với thể để lại muôn năm, ban ơn cho hàng triệu người, nên cũng chẳng thể ko khiến.
Nay nhớ đến và ghi lại nguyên nhân của con sông và các cầu để uỷ thác cho bia đá.
Sáng sớm ngày mồng 1 tháng 10 năm Minh Mạng thứ 17.

6 bia đá kì lạ khu đến trần

6 bia đá mới dựng trái phép trong khuôn viên đền thờ những vị vua è ở Hưng Hà (Thái Bình) đã được di dời. ngoài ra, di tích lịch sử cấp quốc gia đặc biệt này vẫn còn 6 bia đá dựng đầu năm 2014 chưa được chuyển di theo chỉ đạo của Bộ Văn hóa.

Ngày 14/5, ông Bùi Đức Minh, Chánh thanh tra Sở Văn hóa Thể thao và du hý tỉnh thái hoà cho biết, 6 tấm bia đá được quận Hưng Hà và Ban điều hành khu di tích lịch sử cấp đất nước đặc biệt đền thờ những vua è dựng vào giữa tháng Tư đã được di dời ra khỏi khu di tích. Còn 6 tấm bia đá bọc đồng khác đặt tại 3 nấm chiêu mộ phía trước đền được dựng đầu năm 2014 vẫn chưa di dời theo văn bản đề nghị của Bộ Văn hóa.
IMG-9116-JPG-5481-1431584075.jpg
Tại phần chiêu mộ do thị xã Hưng Hà tự định danh là nơi yên ổn nghỉ của vua trần Thánh Tông mới di dời một tấm bia đá phủ vải đỏ được dựng vào ngày 19/4/2015, còn lại 2 bia (một đá, 1 đá bọc đồng) được dựng vào đầu năm 2014 vẫn còn đó. Ảnh:Giang Chinh
Trước ngừng thi côngĐây ngày 5/5, đoàn thanh tra Bộ Văn hóa đã kiểm tra đột xuất di tích quốc gia đặc thù đền thờ những vua nhà è cổ tại thị xã Hưng Hà. Sau khi kiểm tra thực tiễn, đoàn đã lập biên bản và kết luận 12 bia tiêu dùng vật liệu đá xanh và đồng dựng trong di tích này là trái phép, vi phạm Luật kiểm soát an ninh di sản văn hóa.
phần nhiều bia được bề ngoài có những hoa văn, họa tiết rồng, lá đề, chim thần, hoa cúc dây, sóng nước… theo loại hoa văn họa tiết thời Lý - trần. Nội dung các văn bia do Ban quản lý Khu di tích tự soạn, chưa được cấp sở hữu thẩm quyền coi xét, thẩm định và đồng ý; lộn lạo về ngữ pháp tiếng Hán cổ đại và tiếng Việt hiện giờ. Bia với rất nhiều lỗi chính tả, với hiện tượng tẩy xóa trên mặt bia, phần dịch sang tiếng Anh còn có chỗ chưa xác thực, chỗ dịch, chỗ để nguyên…
đặc thù, 6 tấm bia (3 đá, 3 bọc đồng) được chính quyền thị xã Hưng Hà và Ban quản lý di tích quốc gia này định danh trên những ngôi mộ vô danh, khẳng định chậm triển khai là 3 phần chiêu mộ của các vua è cổ Thái Tông (1217-1277),Trần Thánh Tông (1240-1290) và è cổ Nhân Tông (1258-1308).
từ kết quả của thanh tra, ngày 7/5 Bộ Văn hóa có văn bản bắt buộc UBND tỉnh thái bình chỉ đạo Sở Văn hóa, UBND thị xã Hưng Hà, Ban quản lý Khu di tích tháo dỡ và di dời tổng cộng 12 tấm bia đá dựng trái phép trong khoảng năm 2014 ra khỏi khuôn viên di tích trước ngày 15/5, cùng lúc chỉ đạo cơ quan chức năng đơn vị kiểm điểm, làm cho rõ trách nhiệm và xử lý nghiêm doanh nghiệp, cá nhân có hành vi vi phạm trong việc đặt dựng bia trái phép tại di tích cấp đất nước đặc thù
.

Lỗi sai "ngớ ngấn" của bia đá lịch sử

Theo nội dung khắc rõ trên tấm bia đá dựng sừng sững trước cổng đình Quán La (P.Xuân La, Q.Tây Hồ, TP.Hà Nội), thì 2 vị vua sống phương pháp nhau tới gần 200 năm đã bị lầm lẫn. Đáng chú ý, suốt phổ thông năm trôi qua, sự cố ko bị người nào phát hiện cho đến lúc một sinh viên bỗng nhiên nhìn thấy.


luận bàn với PV, anh Nguyễn Tr., "tác giả" của phát hiện nhắc trên cho biết mình là sinh viên ngành nghề quản lý văn hóa, rất đam mê bộ môn lịch sử. “Ở đoạn viết về 18 sắc phong quý mà Thành hoàng làng Quán La được phong với ghi “sắc trước hết là sắc thịnh Đức Nguyên niên (1653) đời vua Lê Thánh Tông. thực tế, cường thịnh Đức Nguyên là niên hiệu dưới thời vua Lê Thần Tông. Đây là một sự lầm lẫn nguy hiểm làm thế hệ con cháu hiểu sai về lịch sử phong kiến”, anh Tr. diễn giải.
Thế nhưng, điều khiến anh Tr. cảm thấy buồn nhất chẳng phải là việc người viết đã sai, mà là bởi tấm bia đã ở ngừng thi côngĐây đã hơn 4 năm, lại nằm ở vị trí rất tiện lợi cho Quan sát, vậy mà không 1 ai phát hiện ra lỗi ngớ ngẩn ấy.
Theo Đánh giá của PV, ngôi đình để xảy ra sự cố đáng nhớ tiếc này nằm trong tổ hợp chùa Xuân La, tên tự Khai Nguyên tự, với trong khoảng cuối thế kỷ 17. Năm 1984, chùa được xếp hạng Di tích lịch sử - văn hóa - nghệ thuật kiến trúc cấp đất nước. Còn tấm bia đá được nói tới cao khoảng 1,7m, rộng 1m mang nội dung chính yếu viết về 18 sắc phong quý, xuất hiện trong khoảng hơn 4 năm nay.
Quang cảnh phía bên ngoài đình Quán La (Ảnh: Văn Thanh)
khung cảnh phía bên ngoài đình Quán La (Ảnh: Văn Thanh)
Để mua xác định kỹ hơn về Phân tích này, PV cũng gửi thông báo tới GS è cổ Lâm Biền, một chuyên gia bậc nhất về nghiên cứu văn hóa Việt Nam. GS Biền cho biết phồn thịnh Đức Nguyên niên 1653 là niên hiệu dưới thời vua Lê Thần Tông; sống 1607 -1662; là vị vua thứ 6 của nhà Lê trung hưng. Còn vua Lê Thánh Tông sinh năm 1442 - 1497; là hoàng đế thứ 5 của nhà Lê sơ. tương tự, giữa vua Lê Thánh Tông và vua Lê Thần Tông sống và trị vì phương pháp nhau sắp 200 năm.
"Tôi ko hiểu tại sao người ta với thể viết và dựng một tấm bia đá với sự nhầm lẫn nguy hiểm tới vậy. Thực trạng này kể lên sự thiếu để ý đến di tích lịch sử văn hoá, thiếu nghĩa vụ mang dân chúng của nhà quản lý di tích”, GS Biền đưa ý kiến.
Cũng can hệ đến lầm lẫn đáng tiếc nuối này, ông Nguyễn Văn Ngư, trưởng ban di tích đình chùa Quán La đã tỏ ra khá lúng túng khi nhận được phản chiếu. Ông giãi tỏ, do ko hiểu biết cặn kẽ về lịch sử nên lúc lập tấm bia giới thiệu, ông đã nhờ 1 lãnh đạo UBND phường Xuân La soạn. “Chúng tôi sẽ họp bàn để rà soát lại. ví như đúng mang lầm lẫn chúng tôi sẽ sớm chỉnh sửa lại cho đúng”, ông Ngư kể.